Sau khi cha tôi qua đời, phải mất một thời gian khá lâu tôi mới khởi động lại để tiếp tục thực hiện tác phẩm này. Lúc này đây tôi thực hiện tác phẩm với một lối nghĩ khác trước khá nhiều, thay vì cái nhìn từ bên ngoài vào, tôi đi tìm cái nhìn từ bên trong ra với yếu tố hòa quyện ba nhân vật này lại với nhau như một sợi chỉ kết chặt không tách rời. cái tách rời của người con cả lúc này đây là sự tách rời nội vi chứ không phải sự tách rời ngoại vi như lúc trước tôi từng suy nghĩ. Thú thực tôi rất tâm đắc với suy nghĩ mới này và tôi mau chóng lấy lại cảm xúc để tiếp tục vẽ hoàn chỉnh tác phẩm này. Tôi sử dụng sự hòa quyện về mặt sắc độ nhẹ nhàng để diễn tả con người và không gian bên ngoài. Tôi muốn sử dụng sắc độ nhẹ nhàng này để làm nổi bật vấn đề hơn, sự thay đổi không gian nhẹ nhàng lồng vào khía cạnh thời gian cho các đối tượng của mình theo sự ngẫu hứng có chủ đích. Tôi diễn tả một khung cảnh có thực nhưng hoàn toàn mang tính ước lệ. Tôi đưa các nhân vật của tôi vào thời điểm của một buổi chiều tà sắp tắt nắng, ánh sáng mặt trời hoàng hôn lúc này bị che khuất bởi dung mạo người cha, cái cúi đầu của người cha tì sát vào đứa con của mình, chỉ còn xuất hiện le lói những tia nắng cho thấy nơi ấy là mặt trời. Và tôi muốn nói đến cái ý ngầm của tôi trong tác phẩm này “bóng tối là biểu hiện của sự dữ, cái may mắn của người con thứ lúc này là trở về kịp thời của một ngày sắp tắt. Ánh sáng của sự thật, ánh sáng của Chân-Thiện-Mỹ vẫn còn cứu rỗi được anh ta và sự dữ chưa kịp xâm lấn anh ta trong vùng bóng tối âm u của gian dối, đố kị…”. Tôi còn muốn ám chỉ về ánh sáng nơi dung mạo của người cha tỏa sáng bao phủ đứa con của mình là ánh sáng của mặt trời công chính chiếu tỏa lên đứa con. Hay nói một cách cụ thể hơn, “Thiên Chúa vẫn ở đấy kiên tâm chờ đợi ta quay trở về – Ngài là ánh sáng thế gian- vấn đề còn lại là ta có chịu quay bước trở về hay không? Hay ta lại đang tự bứt mình ra khỏi cái tình thương vĩnh hằng ấy mà quay lưng lại với Thiên Chúa đang khi mình vẫn ở đó, chẳng hề đi đâu cả nhưng vẫn tách mình ra khỏi tình thương của Thiên Chúa như người anh con cả trong nhà. Tự anh ta ẩn mình vào bóng tối, tách mình ra khỏi cái gia đình mà anh ta đang sống, anh ta tự biến mình thành kẻ cô đơn ngay trong chính gia đình của mình.

Trong quá trình làm tác phẩm này tôi cầu nguyện vời Chúa rất sơ sài, nhưng khi tôi bị tác động mạnh bởi biến cố gia đình mất đi một người thân…lúc này đây tôi thấy mình đồng cảm hơn với câu chuyện. Tôi biết đau nỗi đau của người cha khi đứa con bỏ đi. Tôi cảm nhận được cái nỗi đau mất mát người thân ấy. Tôi chợt nhận ra được tình yêu của Thiên Chúa thật lớn lao. Cái tình thương tôi dành cho cha của tôi cũng chỉ là tình thương thuần túy con người. Quy luật luôn đi xuôi chiều ( cha mẹ luôn thương con cái nhiều hơn con cái thương cha mẹ ) huống chi đó là tình thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tôi thấy con người luôn bất toàn và sẵn lòng bội phản lại tình yêu cao cả của Thiên Chúa, ấy vậy mà Thiên Chúa cứ đứng đó bao dung chờ đợi con cái quay về. Tôi thật sự không cầm được nước mắt khi hình dung ra cảnh đứa con quay về tàn tạ, rách nát từ thể xác đến tâm hồn mà người cha vẫn vui mừng hoan hỉ ra đón con trong tay không màng đến sự bất xứng của nó…và thật sự kỳ diệu khi tôi cảm nhận được rõ cái tình yêu ấy cũng là lúc tôi biết cách nói chuyện với Chúa nhiều hơn. Và tôi thường xuyên cầu nguyện với Chúa theo lối trò chuyện này. Tôi thấy mình thân mật và gần gũi với Thiên Chúa hơn và tôi thấy mình hạnh phúc hơn.

Lúc đầu khi tôi vẽ về đứa con thứ trong vòng tay người cha tôi vẫn bám sát cái ý tưởng cho thấy rõ con người tàn tạ và tiều tụy của anh ta. Tôi để cho nhân vật với một vóc dáng hao gầy , nam tính. Sau bao nhiêu lần thay đổi, bôi xóa trên bản vẽ than ( đen trắng ) tôi quyết định vẽ hình ảnh người con thứ theo suy nghĩ riêng của mình và không còn bám sát thực tế của câu chuyện nữa. Tôi tự hỏi tại sao cứ phải vẽ về người con thứ ấy là một anh con trai theo đúng diễn biến của câu chuyện được kể lại? Người con ấy rất có thể là chính tôi ấy chứ! Vì đã không biết bao nhiêu lần tôi rũ bỏ tình yêu của Thiên Chúa khoác lấy tội lụy vào người và khi quay về tòa giải tội với thân hình tàn tạ oằn nặng tội lỗi trên vai với sự mệt mỏi buông xuôi. Chỉ ước được bàn tay của Thiên Chúa hiện hữu thật ở ngoài đời thực để tôi được bày tỏ nỗi lòng thống hối và tôi được “rơi tự do” vào vòng tay của Ngài( cái khoảng khắc tâm lý ấy diễn ra rất nhiều lần trong đời tôi). Và sau đó tôi quyết định che giấu hình ảnh người con không cho biết rõ giới tính của đứa con thứ và cả đứa con cả nữa. Tôi để cho nhân vật của mình xuất hiện chỉ còn là hình ảnh giống như một cái bóng không rõ ràng nữa.chỉ biết nơi ấy là một con người rất rõ ràng nhưng lại không biết được đó là ai với một câu hỏi tôi muốn đặt ra cho tôi và cho cả người thưởng lãm rằng: “bạn và tôi có thể là đứa con thứ đang quay trở về, và cũng có thể sẽ trở thành đứa con cả đang ở trong nhà của cha mình nhưng vẫn cứ như một người khách lạ tự tách mình ra khỏi cái gia đình của mình”? Ta sẽ là ai trong số họ? Ta sẽ đối sử với Thiên Chúa theo cách nào? Cách của người con thứ hay cái cách của anh con cả? Hai nhân vật “con” của tôi lúc này chỉ còn là hình bóng mờ ảo không rõ ràng, không thấy được dung mạo của họ, và không thấy được cảm xúc của họ như thế nào. Nhưng thông qua bóng dáng người con thứ chuyển động như thể “rơi tự do” vào vòng tay người cha, sụp đổ hoàn toàn vào vòng tay ấy. Đây chính là ý đồ mà tôi muốn thể hiện thông qua cảm xúc của chính mình với những lần mệt mỏi, chán nản và từng bao lần muốn buông xuôi.Tôi cố tình để cho một thứ thấy rất rõ và cụ thể. Đó là bàn tay của đứa con thứ chạm vào bàn tay người cha, khoảnh khắc ấy là có thật, nó sẽ tồn tại thật nếu đứa con muốn quay trở về. Đây chính là trọng tâm câu chuyện mà tôi muốn nhấn mạnh trong tác phẩm. Đôi bàn tay người cha dìu đỡ đứa con khi nó vừa quỵ ngã vì kiệt sức, vì thống hối và vì tất cả các lý do khác nữa…mặc dù người cha tuổi già sức yếu, mòn mỏi, hao gầy, tiều tụy vì ngóng đợi. Nhưng khi đứa con quay về đủ làm nên điều kỳ diệu cho người cha thêm sức mạnh để nâng đỡ đứa con.Lúc này đây tôi sửa đổi vóc dáng người cha vừa như cùng quỵ xuống với đứa con của mình mà cũng vừa như gắng gượng để thêm sức đỡ vực đứa con của mình đứng dậy.Tuy nhiên tôi cố tình cắt mất phần dưới đi để cho người xem tự cảm nhận và cũng để cho thêm phần huyền diệu mà tôi đã chủ đích tạo ra.

Tác phẩm Người Cha Nhân Hậu - Hs Bùi Thị Thắm

Tác phẩm Người Cha Nhân Hậu – Hs Bùi Thị Thắm

Tạm hài lòng với tác phẩm của mình tôi lùi ra xa để ngắm nhìn tổng thể bức vẽ.một lần nữa vấn đề lại nảy sinh. Bố cục thì tạm ổn nhưng sự kết nối trong tác phẩm chưa có, và còn nữa, tôi thấy rất không hài lòng về ánh mắt của người cha mở ra nhìn đứa con trong khi đứa con thì không rõ vóc dáng và dung mạo.Tôi thấy có cái gì đó không ổn và bất hợp lý ở chỗ này. Tôi suy nghĩ lại toàn bộ tư duy từ trước tới giờ của tôi, rõ ràng có cái gì đó mâu thuẫn mà tôi chưa nhận ra. Tôi lại bắt đâu cầu nguyện và tôi được Chúa tác động cho hiểu rõ vấn đề hơn. Tôi đang đi tìm cái nhìn từ phía bên trong tại sao tôi lại để cho người cha mở mắt ra nhìn đứa con trong khi đó nó không cụ thể hình dáng và dung mạo.

Người cha nhìn cái gì vậy? đây là điểm mâu thuẫn mặc dù tôi cố thể hiện ánh mắt ấy trìu mến! Tôi chợt nhận ra được một điều, nếu tôi muốn đồng cảm với một ai đó hay với hoàn cảnh của họ tôi thường đặt mình vào trường hợp của họ để hiểu và thông cảm cho họ hơn.Và có lẽ người cha nhân hậu thì lúc này đây cũng sẽ thế. Muốn hiểu được con mình chắc Ngài cũng sẽ nhắm mắt lại để cảm nhận được nhịp đập, nỗi thổn thức của con mình đang ẩn chứa ở phía bên trong chứ không phải vẻ ngoài của nó.

Tạ ơn Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho con thấu hiểu.

Hs. Bùi Thị Thắm